1099 –

Thiên niên kỷ: thiên niên kỷ 2
Thế kỷ:
  • thế kỷ 10
  • thế kỷ 11
  • thế kỷ 12
Thập niên:
  • thập niên 1070
  • thập niên 1080
  • thập niên 1090
  • thập niên 1100
  • thập niên 1110
Năm:
  • 1096
  • 1097
  • 1098
  • 1099
  • 1100
  • 1101
  • 1102

Năm 1099 là một năm trong lịch Julius.

Mục lục

  • 1 Sự kiện
  • 2 Sinh
  • 3 Mất
  • 4 Tham khảo
1099 trong lịch khác
Lịch Gregory 1099
MXCIX
Ab urbe condita 1852
Năm niên hiệu Anh 12 Will. 2 – 13 Will. 2
Lịch Armenia 548
ԹՎ ՇԽԸ
Lịch Assyria 5849
Lịch Ấn Độ giáo
 – Vikram Samvat 1155–1156
 – Shaka Samvat 1021–1022
 – Kali Yuga 4200–4201
Lịch Bahá’í -745 – -744
Lịch Bengal 506
Lịch Berber 2049
Can Chi Mậu Dần (戊寅年)
3795 hoặc 3735
    — đến —
Kỷ Mão (己卯年)
3796 hoặc 3736
Lịch Chủ thể N/A
Lịch Copt 815–816
Lịch Dân Quốc 813 trước Dân Quốc
民前813年
Lịch Do Thái 4859–4860
Lịch Đông La Mã 6607–6608
Lịch Ethiopia 1091–1092
Lịch Holocen 11099
Lịch Hồi giáo 492–493
Lịch Igbo 99–100
Lịch Iran 477–478
Lịch Julius 1099
MXCIX
Lịch Myanma 461
Lịch Nhật Bản Jōtoku 3 / Kōwa 1
(康和元年)
Phật lịch 1643
Dương lịch Thái 1642
Lịch Triều Tiên 3432
  • El Cid


Nguyễn Nghi (tiến sĩ) –

Nguyễn Nghi (chữ Hán: 阮宜; 1588-1657) là đại thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

Theo gia phả thì họ nguyễn của ông có gốc từ hoàng tộc họ Lý, sau khi Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh, Nhà Lý mất và con cháu họ Lý bị bức hại phải bỏ trốn và đổi sang họ Nguyễn. Cha ông là tiến sĩ Nguyễn Thực là cháu đời thứ 10 của Nghĩa Nam Vương Lý Hưng Tích (là con thứ 3 của vua Thánh Tông hoàng đế Lý Nhật Tôn), và ông là cháu đời thứ 11.

Nguyễn Nghi là con Tể tướng Nguyễn Thực thời Lê Thần Tông, người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, nay là xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội, Việt Nam.

Năm 1619 đời Lê Kính Tông, ông thi đỗ đồng tiến sĩ khi 32 tuổi, cùng cha là Nguyễn Thực cùng làm quan một thời trong triều. Năm 1630 ông làm Phó sứ sang Trung Quốc cống nhà Minh.

Năm 1645 ông được thăng làm Thượng thư bộ Lễ, gia phong Thiếu bảo, tước Dương quận công.

Sau đó Nguyễn Nghi vào coi việc trong điện Kinh diên, kiêm đại học sĩ Đông các, Tế tửu Quốc Tử Giám.

Năm 1653 ông được thăng làm Thượng thư bộ Lại, gia thăng làm Thiếu phó, rồi vào phủ chúa Trịnh làm Tham tụng[1].

Năm 1657, ông mất, thọ 70 tuổi, được triều đình truy tặng làm Thiếu phó, tên thụy là Cung Ý.

Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau[2]:

Tính ông thuần cẩn, chuộng kiệm ước, không lập sản nghiệp. Đức nghiệp danh vọng của ông lúc đó ai cũng ngưỡng mộ.
  1. ^ Chức vị như Tể tướng
  2. ^ Phan Huy Chú, sách đã dẫn, tr 319

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 (vòng loại bảng F) –

Dưới đây là kết quả các trận đấu trong khuôn khổ bảng F – vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu 2012. 6 đội bóng châu Âu bao gồm Croatia, Israel, Malta, Latvia, Gruzia và Hy Lạp thi đấu trong hai năm 2010 và 2011, theo thể thức lượt đi-lượt về, vòng tròn tính điểm, lấy hai đội đầu bảng tham gia vòng chung kết.

Một cuộc họp đã diễn ra tại Athens, Hy Lạp ngày 7 tháng 3 năm 2010 để xác định lịch thi đấu của bảng F.[1] Tuy nhiên cuộc họp này đã không đem lại kết quả cuối cùng nên lịch thi đấu sau cùng đã được quyết định bằng một cuộc bốc thăm ngẫu nhiên tại Tel Aviv, Israel ngày 25 tháng 3.[2]















4 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
Phản lưới nhà

1316 –

Thiên niên kỷ: thiên niên kỷ 2
Thế kỷ:
  • thế kỷ 13
  • thế kỷ 14
  • thế kỷ 15
Thập niên:
  • thập niên 1290
  • thập niên 1300
  • thập niên 1310
  • thập niên 1320
  • thập niên 1330
Năm:
  • 1313
  • 1314
  • 1315
  • 1316
  • 1317
  • 1318
  • 1319

Năm 1316 (Số La Mã: MCCCXVI) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ năm trong lịch Julius.

Mục lục

  • 1 Sự kiện
  • 2 Sinh
  • 3 Mất
  • 4 Tham khảo
1316 trong lịch khác
Lịch Gregory 1316
MCCCXVI
Ab urbe condita 2069
Năm niên hiệu Anh 9 Edw. 2 – 10 Edw. 2
Lịch Armenia 765
ԹՎ ՉԿԵ
Lịch Assyria 6066
Lịch Ấn Độ giáo
 – Vikram Samvat 1372–1373
 – Shaka Samvat 1238–1239
 – Kali Yuga 4417–4418
Lịch Bahá’í -528 – -527
Lịch Bengal 723
Lịch Berber 2266
Can Chi Ất Mão (乙卯年)
4012 hoặc 3952
    — đến —
Bính Thìn (丙辰年)
4013 hoặc 3953
Lịch Chủ thể N/A
Lịch Copt 1032–1033
Lịch Dân Quốc 596 trước Dân Quốc
民前596年
Lịch Do Thái 5076–5077
Lịch Đông La Mã 6824–6825
Lịch Ethiopia 1308–1309
Lịch Holocen 11316
Lịch Hồi giáo 715–716
Lịch Igbo 316–317
Lịch Iran 694–695
Lịch Julius 1316
MCCCXVI
Lịch Myanma 678
Lịch Nhật Bản Chiêu Hòa 5
(正和5年)
Phật lịch 1860
Dương lịch Thái 1859
Lịch Triều Tiên 3649


Tùy Cung Đế –

Tùy Cung Đế (chữ Hán: 隋恭帝; 605[3] – 14 tháng 9 năm 619[4]), tên húy là Dương Hựu (giản thể: 杨侑; phồn thể: 楊侑; bính âm: Yáng Yòu), là hoàng đế thứ ba của triều Tùy. Theo truyền thống, ông được xem là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại do là người đã chính thức thiện nhượng cho Lý Uyên- hoàng đế khai quốc triều Đường, mặc dù sau đó, Dương Đồng đã xưng đế và tiếp tục tại vị cho đến năm 619.

Lý Uyên đã nổi dậy chống lại sự cai trị của Tùy Dạng Đế vào năm 617 và chiếm được kinh thành Trường An trong cùng năm, bắt giữ Dương Hựu và tuyên bố lập ông làm hoàng đế, song chỉ có các quận nằm dưới quyền cai quản của Lý Uyên mới công nhận ông là hoàng đế; các quận khác tiếp tục công nhận Tùy Dạng Đế là hoàng đế. Năm 618, sau khi biết tin Tùy Dạng Đế bị tướng Vũ Văn Hóa Cập sát hại, Lý Uyên đã buộc thiếu hoàng đế phải thiện nhượng cho mình. Dương Hựu qua đời vào năm sau đó, có thể là theo lệnh của Lý Uyên.

Dương Hựu sinh năm 605, là đệ tam tử của Dương Chiêu- thái tử của Tùy Dạng Đế. Mẹ của Dương Hựu là Vi thái tử phi. Trên ông là anh cả Dương Đàm (楊倓) và anh hai Dương Đồng. Tuy nhiên, theo nguyên tắc kế thừa của Nho giáo, ông được xem là người thừa kế hợp thức do có mẹ là chính thất, trong khi mẹ của Dương Đàm và Dương Đồng là tiểu thiếp.

Dương Chiêu qua đời vào năm 606. Tuy nhiên, Tùy Dạng Đế không lập Dương Hựu hay các anh trai của ông làm hoàng thái tôn, khiến việc ai sẽ kế vị ngai vàng trở nên không rõ ràng. Tùy Dạng Đế phong vương cho ba nhi tử của Dương Chiêu, trong đó Dương Hựu được phong tước Đại vương.[5] Do Tùy Dạng Đế không thường xuyên ở tại kinh thành Trường An, bắt đầu từ năm 613, Dạng Đế giao cho hoàng tôn Dương Hựu mới 8 tuổi lưu thủ Trường An trên danh nghĩa, song trách nhiệm trên thực tế thuộc về tướng Vệ Văn Thăng (衛文昇). Cũng trong năm đó, khi tướng Dương Huyền Cảm nổi dậy và tấn công vào đông đô Lạc Dương, Vệ Văn Thăng là người dẫn quân từ Trường An đễn cứu viện Lạc Dương.

Năm 617, tướng Lý Uyên đã nổi dậy tại căn cứ ở Thái Nguyên (太原, nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây). Lý Uyên vừa muốn cách biệt với Tùy Dạng Đế lại vừa tuyên bố với quân Tùy rằng mình vẫn trung thành với triều đình, nói rằng mục tiêu của mình là để ủng hộ Dương Hựu lên làm hoàng đế và thuyết phục Tùy Dạng Đế trở về từ Giang Đô (江都, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô) làm Thái thượng hoàng. Lý Uyên nhanh chóng tiến quân đến Trường An, còn Vệ Văn Thăng đã chết trong chiến dịch này. Các thuộc cấp của Vệ Văn Thăng là Âm Thế Sư (陰世師) và Cốt Nghi (骨儀) lưu thủ kinh thành và bảo vệ Dương Hựu.

Vào đông năm 617, quân của Lý Uyên chọc thủng tuyến phòng thủ của Trường An. Lý Uyên bắt được Dương Hựu và tôn Dương Hựu là hoàng đế, tức Cung Đế, tuyên bố Tùy Dạng Đế trở thành Thái thượng hoàng, song địa vị hoàng đế của Dương Hựu chỉ được các lãnh thổ nằm dưới quyền kiểm soát của Lý Uyên công nhận.

Mặc dù tôn Dương Hựu làm hoàng đế, quyền lực vẫn nằm trong tay Lý Uyên, Lý Uyên đã buộc Tùy Cung Đế phải phong cho ông ta làm Đường vương. Trong một thời gian ngắn, các quận xung quanh, bao gồm hầu hết Thiểm Tây, Tứ Xuyên và Trùng Khánh ngày nay, đã khuất phục Lý Uyên.

Do Lạc Dương phải hứng chịu cuộc tấn công của thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Lý Mật, vào mùa xuân năm 618, Lý Uyên phái hai con là Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân dẫn một đội quân tiến đến, tuyên bố là đi cứu viện Lạc Dương. Quân Tùy ở Lạc Dương từ chối công nhận quyền lực của Lý Uyên và không giao thiệp với quân của Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân, đội quân này cũng triệt thoái sau khi giao chiến ngắn ngủi với quân Lý Mật

Vào mùa hè năm 618, chỉ sáu tháng sau khi Tùy Cung Đế đăng cơ, Lý Uyên đã buộc ông phải nhường ngôi cho mình, trở thành Đường Cao Tổ và lập ra triều Đường.

Đường Cao Tổ giáng Tùy Cung Đế là Hi (Huề) quốc công. Hi quốc công qua đời vào mùa thu năm 619, và mặc dù sử sách cổ xưa không đề cập một cách trực tiếp, song chúng ngụ ý rằng ông bị giết theo lệnh của hoàng đế triều Đường. Dương Hựu không có con, và tước hiệu của ông do cháu Dương Hành Cơ (楊行基) kế tập.

1649 –

Thiên niên kỷ: thiên niên kỷ 2
Thế kỷ:
  • thế kỷ 16
  • thế kỷ 17
  • thế kỷ 18
Thập niên:
  • thập niên 1620
  • thập niên 1630
  • thập niên 1640
  • thập niên 1650
  • thập niên 1660
Năm:
  • 1646
  • 1647
  • 1648
  • 1649
  • 1650
  • 1651
  • 1652

Năm 1649 (số La Mã: MDCXLIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ hai của lịch Julius chậm hơn 10 ngày).

Mục lục

  • 1 Sự kiện
  • 2 Sinh
  • 3 Mất
  • 4 Tham khảo
1649 trong lịch khác
Lịch Gregory 1649
MDCXLIX
Ab urbe condita 2402
Năm niên hiệu Anh 24 Cha. 1 – 1 Cha. 2
(Interregnum)
Lịch Armenia 1098
ԹՎ ՌՂԸ
Lịch Assyria 6399
Lịch Ấn Độ giáo
 – Vikram Samvat 1705–1706
 – Shaka Samvat 1571–1572
 – Kali Yuga 4750–4751
Lịch Bahá’í -195 – -194
Lịch Bengal 1056
Lịch Berber 2599
Can Chi Mậu Tý (戊子年)
4345 hoặc 4285
    — đến —
Kỷ Sửu (己丑年)
4346 hoặc 4286
Lịch Chủ thể N/A
Lịch Copt 1365–1366
Lịch Dân Quốc 263 trước Dân Quốc
民前263年
Lịch Do Thái 5409–5410
Lịch Đông La Mã 7157–7158
Lịch Ethiopia 1641–1642
Lịch Holocen 11649
Lịch Hồi giáo 1058–1059
Lịch Igbo 649–650
Lịch Iran 1027–1028
Lịch Julius theo lịch Gregory trừ 10 ngày
Lịch Myanma 1011
Lịch Nhật Bản Keian 2
(慶安2年)
Phật lịch 2193
Dương lịch Thái 2192
Lịch Triều Tiên 3982


Câu lạc bộ bóng đá Kiên Giang –

Câu lạc bộ bóng đá Kiên Giang là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp của Việt Nam. Sau mùa bóng 2011, đội đã giành được quyền thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia năm 2012.

Tiền thân của đội là Đội bóng đá Kiên Giang, một đội bóng nghiệp dư cấp tỉnh, được thành lập vào năm 1998, đặt dưới sự quản lý của Sở Thể dục Thể thao Kiên Giang.

Được xem là một đội bóng đàn em về thành tích, ít được đầu tư đúng mức, mãi đến năm 2004, đội chính thức thi đấu ở Giải hạng Ba toàn quốc. Năm 2007, đội được thăng lên Giải hạng Nhì. Với sự tài trợ của Ngân hàng Kiên Long, đội hầu như thuê toàn bộ đội U21 Bình Định để thi đấu tại giải với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Kiên Long Kiên Giang. Huấn luyện viên của U21 Bình Định Nguyễn Ngọc Thiện cũng chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng của Kiên Giang. Tại mùa giải này, đội lọt vào được vòng bán kết.

Năm 2008, nhà tài trợ chính của đội bóng là Công ty Nguyễn Hoàng, vì thế, đội thi đấu với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Nguyễn Hoàng – Kiên Giang. Tuy nhiên, một lần nữa đội vẫn không qua khỏi vòng bán kết. Thành tích này vẫn tiếp tục lặp lại ở giải năm 2009.

Tại mùa giải 2010, lần thứ tư đội lọt vào bán kết và giành được thắng lợi, sau đó đoạt chức vô địch Giải hạng Nhì sau khi thắng được Phađin Quảng Ngãi ở trận bán kết và Hòa Phát V&V ở trận chung kết, giành quyền lên Giải vô địch bóng đá hạng nhất Việt Nam năm 2011

Mùa giải 2011 với sự đầu tư của Ngân hàng Kiên Long, đội đã thi đấu tốt dưới tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Kiên Long Bank Kiên Giang. Ngày 28 tháng 7 năm 2011, đội bóng đã chuyển giao trở thành doanh nghiệp, đặt dưới quyền quản lý của Công ty Cổ phần Bóng đá Kiên Giang. Cùng với sự dẫn dắt xuất sắc của huấn luyện viên Lại Hồng Vân, ngày 20 tháng 8 năm 2011, đội bóng đã chính thức giành quyền chơi V-League.

Tên gọi thi đấu qua các thời kì[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội bóng đá Kiên Giang: 1998-2007
  • Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Kiên Long Kiên Giang: 2007-2008
  • Câu lạc bộ bóng đá Nguyễn Hoàng – Kiên Giang: 2008-2010
  • Câu lạc bộ bóng đá Kiên Long Bank Kiên Giang: 2011-nay

Giải hạng nhì:

Giải hạng nhất:

Giải V-League:

Tính đến giai đoạn 2 mùa giải Vleague 2013[1].

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Roentgeni –

Roentgeni,  111Rg
Tính chất chung
Tên, ký hiệu roentgeni, Rg
Phiên âm rơn-ghen-ni
Hình dạng không rõ
Roentgeni trong bảng tuần hoàn
Số nguyên tử (Z) 111
Khối lượng nguyên tử chuẩn (Ar) [281]
Phân loại   không rõ
Nhóm, phân lớp 11, d
Chu kỳ Chu kỳ 7
Cấu hình electron [Rn] 5f14 6d9 7s2
(dự đoán)[1]

mỗi lớp

2, 8, 18, 32, 32, 17, 2
(dự đoán)[1]
Tính chất vật lý
Trạng thái vật chất không rõ
Tính chất nguyên tử
Trạng thái ôxy hóa −1, +1, +3, +5[2] ​dự đoán theo vàng
Bán kính liên kết cộng hóa trị 121 (ước lượng)[3] pm
Thông tin khác
Số đăng ký CAS 54386-24-2
Đồng vị ổn định nhất
Bài chính: Đồng vị của roentgeni
iso NA Chu kỳ bán rã DM DE (MeV) DP
282Rg syn 0,5 s α 9,00 278Mt
281Rg syn 26 s SF
280Rg syn 3,6 s α 9,75 276Mt
279Rg syn 170 ms α 10,37 275Mt
278Rg syn 4,2 ms α 10,69 274Mt
274Rg syn 15 ms α 11,23 270Mt
272Rg syn 1,6 ms α 11,02, 10,82 268Mt

Roentgeni (phát âm như “rơn-ghen-ni”; tên quốc tế: roentgenium) là nguyên tố hóa học tổng hợp có tính phóng xạ với ký hiệu Rg và số nguyên tử 111. Nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất trong nhóm 11 (IB), nhưng hiện nay đồng vị bền đầy đủ vẫn còn chưa được biết – cho phép tiến hành các thí nghiệm hóa học để xác định vị trí của nó. Roentgeni đã từng được gọi là unununi trước khi chính thức phát hiện ra nó.

Roentgeni được tổng hợp đầu tiên năm 1994 và một số đồng vị cũng đã được tổng hợp khi phát hiện ra nó. Đồng vị bền nhất là 281Rg có chu kỳ bán rã ~20 giây, phân rã bằng cách phân hạch tự phát giống như các nguyên tố đồng nơtron N=170 khác.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Roentgeni được phát hiện chính thức bởi Peter Armbruster, Gottfried Münzenberg, và cộng sự tại Gesellschaft für Schwerionenforschung (GSI) ở Darmstadt, Đức vào ngày 8 tháng 12 năm 1994.[4]
Chỉ có 3 nguyên tử được tổng hợp (tất cả là 272Rg), bằng sự hợp hạch thu nhiệt giữa các ion niken và bismuth trong máy gia tốc tuyến tính:

20983Bi + 6428Ni272111Rg + 10n

Năm 2001, IUPAC/IUPAP Joint Working Party (JWP) kết luận rằng không có đủ bằng chứng công nhận việc phát hiện vào thời điểm đó.[5] Nhóm GSI đã lập lại thí nghiệm vào năm 2002 và phát hiện ra 3 nguyên tử nữa.[6][7] Trong báo cáo năm 2003, JWP quyết định rằng nhóm GSI nên được công nhận là những người phát hiện ra nguyên tố này.[8]

Đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên roentgenium (Rg) do nhóm GSI đề xuất[9] theo tên của nhà vật lý Đức Wilhelm Conrad Röntgen, và được chấp nhận vào ngày 01 tháng 11 năm 2004.[10] Nguyên tố này trước đây được IUPAC đặt tạm theo hệ thống là unununium (unununi), viết tắt Uuu.

  1. ^ a ă Turler, A. (2004). “Gas Phase Chemistry of Superheavy Elements” (PDF). Journal of Nuclear and Radiochemical Sciences 5 (2): R19–R25. 
  2. ^ Haire, Richard G. (2006). “Transactinides and the future elements”. Trong Morss; Edelstein, Norman M.; Fuger, Jean. The Chemistry of the Actinide and Transactinide Elements (ấn bản 3). Dordrecht, Hà Lan: Springer Science+Business Media. tr. 1674–75. ISBN 1-4020-3555-1. 
  3. ^ Chemical Data. Roentgenium – Rg, Hội Hóa học Hoàng gia
  4. ^ Hofmann, S.; Ninov, V.; Heßberger, F. P.; Armbruster, P.; Folger, H.; Münzenberg, G.; Schött, H. J.; Popeko, A. G.; Yeremin, A. V. (1995). “The new element 111”. Zeitschrift für Physik a Hadrons and Nuclei 350: 281. doi:10.1007/BF01291182. 
  5. ^ Karol; Nakahara, H.; Petley, B. W.; Vogt, E. và đồng nghiệp (2001). “On the discovery of the elements 110–112” (PDF). Pure Appl. Chem. 73 (6): 959–967. doi:10.1351/pac200173060959. 
  6. ^ Hofmann, S.; Heßberger, F.P.; Ackermann, D.; Münzenberg, G.; Antalic, S.; Cagarda, P.; Kindler, B.; Kojouharova, J.; Leino, M. (2002). “New results on elements 111 and 112”. The European Physical Journal A 14: 147. doi:10.1140/epja/i2001-10119-x. 
  7. ^ Hofmann và đồng nghiệp. “New results on element 111 and 112” (PDF). GSI report 2000. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008. 
  8. ^ “Karol et al.” (PDF). Pure Appl. Chem. 75 (10): 1601–1611. 2003. 
  9. ^ Corish và đồng nghiệp. “Name and symbol of the element with atomic number 111” (PDF). IUPAC Provisional Recommendations. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008. 
  10. ^ Corish; Rosenblatt, G. M. và đồng nghiệp (2004). “Name and symbol of the element with atomic number 111” (PDF). Pure Appl. Chem. 76 (12): 2101–2103. doi:10.1351/pac200476122101. 

Nhà hát Chèo Bắc Giang –

Nhà hát Chèo Bắc Giang là đơn vị hoạt động nghệ thuật, đóng tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang được thành lập trên cơ sở Đoàn chèo Bắc Giang cũ. Đây là Nhà hát Chèo duy nhất còn lại của chiếng Chèo xứ Kinh Bắc.
Ngày 30 tháng 7 năm 2010, tỉnh Bắc Giang ban hành Số 78/QD-UBND về việc nâng cấp Đoàn nghệ thuật Chèo – Ca múa nhạc Bắc Giang thành Nhà hát Chèo Bắc Giang và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của Nhà hát Chèo Bắc Giang.[1]

Nhà hát Chèo Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của nhà hát Chèo Bắc Giang là Đoàn nghệ thuật Chèo sông Thương, được thành lập từ tháng 6 năm 1959. Khi mới thành lập, Đoàn đã mời các nghệ nhân Nhà hát Chèo Việt Nam về truyền dạy có kiến thức cơ bản để dàn dựng những vở chèo ngắn: “Hương lúa tình quê”, “Tiếng trống hội mùa”, “Chị Thắm anh Hồng”, “Vẹn cả đôi đường”, “Mối tình Điện Biên”, “Tiến lên phía trước”, “Cho đẹp quê ta”… Những năm tiếp theo, Đoàn dàn dựng những vở chèo truyền thống dài như: “Suý Vân giả dại”, “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình Dương Lễ”. Hành trang vào nghề của Đoàn lúc bấy giờ còn rất thô sơ, nghèo nàn (4 chiến xe ba gác, 4 chiếc đèn măng xông, không có tăng âm tiếng nói, phông màn được may bằng vải thô, một số phục trang cũ được dùng cho nhiều vở diễn). Năm 1962, tại Hội diễn tổng hợp 9 tỉnh được tổ chức tại Thường Tín (Hà Tây), Đoàn đã tham dự với hai vở chèo “Tiến lên phía trước” và “Ba anh em họ Điềm”.

Năm 1963, hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, hai đoàn nghệ thuật Chèo của hai tỉnh được sáp nhập và đổi tên thành Đoàn nghệ thuật Chèo Hà Bắc. Đoàn đã phải đi sơ tán ở nhiều nơi để biểu diễn động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân. Chương trình biểu diễn của Đoàn trong thời kỳ này là các vở diễn: “Nguyễn Văn Bé”, “Cô gái Long Châu Sa”, “Tình quân dân”, “Làng Thương”, “Cai Tranh đốt quán”, “Trên đồi pháo”… Bên cạnh những tiết mục ngắn, Đoàn còn dàn dựng những vở diễn dài như: “Tiếng hát làng Pơ Rao”, “Lứa tuổi xuân”, “Dòng phù sa”, “Tấm Cám”…

Năm 1971, tỉnh Hà Bắc đã thành lập Đội văn công xung kích. Nhiều nghệ sĩ của đoàn xung phong vào Đội, lên đường ra tiền tuyến. Kết thúc đợt diễn, Đội Văn công xung kích đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, được Bộ Tư lệnh chiến trường 559 và UBND tỉnh Hà Bắc tặng Bằng khen. Thời kỳ 1975-1990, Đoàn Chèo Hà Bắc dàn dựng nhiều vở diễn cổ vũ cho công cuộc xây dựng cuộc sống mới như: “Dòng phù sa”, “Chàng rể bố vợ”, “Những người nói thật”… Năm 1988, Liên hoan sân khấu chèo toàn quốc tại Hà Nam Ninh, Đoàn đã tham dự với vở “Oan trái làng Tằm”.

Từ năm 1988 đến năm 1995, do chuyển đổi cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trường, Hà Bắc có bốn đoàn nghệ thuật (đoàn Nghệ thuật Tuồng, đoàn Chèo, đoàn Kịch nói, đoàn Dân ca Quan họ) hầu như đều phải ngừng hoạt động. Đứng trước thực trạng đó, Sở Văn hoá Thông tin-Thể thao đã có đề án củng cố xếp sắp lại bộ máy tổ chức của các đoàn, trình tỉnh ra Quyết định tinh giảm biên chế chỉ để lại hai đoàn (Đoàn Nghệ thuật Chèo và Đoàn Dân ca Quan họ). Ba đơn vị Kịch, Tuồng, Chèo được hợp nhất thành Đoàn nghệ thuật Chèo, trong đó nòng cốt là cán bộ diễn viên của Đoàn nghệ thuật Chèo. Từ 130 cán bộ nhân viên chỉ còn 31 người. Đoàn đã nhanh chóng dàn dựng lại các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Nỗi đau tình mẹ”, “Chinh phụ hai chồng” và “Đôi ngọc lưu ly”. Cuối năm 1993, Đoàn đã thành lập một đội gồm 16 cán bộ, diễn viên, nhạc công vào biểu diễn phục vụ cán bộ và nhân dân các tỉnh Tây Ninh, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh… Cũng trong giai đoạn này, Đoàn đã xây dựng chương trình tham dự thi Tiếng hát Chèo hay toàn quốc (1992) tại Hải Dương và tham dự thi các trích đoạn chèo, tuồng hay toàn quốc (1993) tại Ninh Bình.[2]

Năm 1992, 1993 Đoàn được tặng Bằng khen của Bộ VHTT, Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hà Bắc, Tây Ninh. Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Đoàn được đổi tên là Đoàn nghệ thuật Chèo tỉnh Bắc Giang. Năm 2001, tại Liên hoan Sân khấu chèo truyền thống tổ chức tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), dàn diễn viên trẻ của đoàn đã được tặng hai giải thưởng, 01 Huy chương vàng và giải Nghệ sĩ múa đẹp nhất. Năm 2002, tại Hội thi “Hát Dân ca” các tỉnh Trung du đồng bằng Bắc Bộ do Bộ VHTT tổ chức 05 tiết mục dự thi Đoàn đã được Ban Giám khảo tặng thưởng 1 Huy chương vàng toàn đoàn, 3 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc tiết mục. Năm 2003, với đội hình hơn 40 cán bộ nghệ sĩ, Đoàn đã tổ chức đợt biểu diễn dài ngày với gần 30 đêm diễn trên địa bàn các tỉnh phía Nam, như Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kom Tum-Đắc Lắc. Từ năm 1999 đến 2009, năm nào đoàn cũng thực hiện được từ 140 đến 150 đêm diễn trở lên, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Với gần 100 vở diễn, 70 Huy chương vàng, bạc của tập thể và cá nhân trong các kỳ hội diễn từ những năm 1980 trở lại đây, Đoàn đã được tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL, UBND tỉnh về thành tích công tác. Năm 2004, Đoàn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và năm 2009 Đoàn đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.

Nghệ thuật Chèo ở Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Giang là đất chèo có tiếng xứ Bắc. Ngoài đặc điểm chung, chèo Bắc Giang còn có nét riêng khi mang âm hưởng đậm nét của vùng trung du miền núi, từ phong cách biểu diễn đến lời ca đều khỏe khoắn và mộc mạc hơn. Những năm 80 của thế kỷ trước, khi sáng tác làn điệu chèo, các nhạc sĩ thường sử dụng chất liệu dân ca quan họ và gần đây còn khai thác dân ca dân tộc thiểu số như hát then, hát ví.[3]

Yên Dũng có làng Đồng Quan, xã Đồng Sơn là làng có truyền thống hát chèo từ xa xưa, đến nay đội chèo có 18 người cả diễn viên và nhạc công do bà Khổng Thị Tiêu phụ trách; Đội chèo làng Đồng Nhân, xã Đồng Phúc vốn là làng chèo truyền thống, có 14 người do ông Nguyễn Khánh Dư làm đội trưởng. Làng chèo Dốc Sở xã Đồng Sơn có 13 người do ông Nguyễn Văn Dương làm đội trưởng; Làng chèo Tân Ninh xã Tư Mại, đây là làng chèo cổ, có 20 người do ông Lưu Xuân Đức phụ trách. Từ năm 2004 huyện Yên Dũng còn thành lập các câu lạc bộ chèo như: Câu lạc bộ “Chiếu chèo quê” do ông Nguyễn Văn Đán làm chủ nhiệm, CLB có 24 người tập hợp từ các xã trong huyện. CLB Đồng Tiến Đức có 50 người là hội viên, CLB thôn Đồng Nhân xã Đồng Phúc do ông Nguyễn Văn Toàn làm chủ nhiệm. Hầu hết các đội chèo và CLB đều duy trì và phát triển đội ngũ nhạc công của dàn nhạc dân tộc. Huyện Yên Dũng là nơi có những làng chèo truyền thống như: Tân Độ (xã Tân Liễu); Đồng Nhân (xã Đồng Phúc); Tân Ninh, Bắc Am (xã Tư Mại)… Từ năm 2005 đến nay, Yên Dũng đã thành lập được 6 CLB chèo, khôi phục 6 làng chèo truyền thống, thu hút hàng trăm người tham gia. Không chỉ có các CLB hoạt động ở thôn, xã, Yên Dũng còn thành lập mô hình cấp huyện với gần 20 thành viên thường xuyên hoạt động tại CLB chèo Yên Dũng.[4] Năm 2007, huyện Yên Dũng đã tổ chức Liên hoan Tiếng hát chèo lần thứ nhất. Tham gia hội diễn có 21 câu lạc bộ của 21 làng, với hàng trăm diễn viên và nhạc công không chuyên.[5]

Huyện Việt Yên: Có các làng chèo cổ và nay còn một số đội được duy trì ở mức độ hát và dựng các tiểu phẩm mới như: Hoàng Mai (xã Hoàng Ninh); làng Mỏ Thổ (xã Minh Đức); Làng Trung Đồng (xã Vân Trung); làng Kiểu (xã Bích Sơn), làng Vân (xã Vân Hà)… Huyện Tân Yên: Làng Dương Lâm (xã An Dương), đội chèo xã Ngọc Châu; làng Hạ (xã Cao Thượng), riêng làng Hạ vẫn là làng chèo truyền thống, đến nay vẫn duy trì và hoạt động. Đội chèo có 30 người cả diễn viên và nhạc công do ông Trọng Nguyên làm đội trưởng. Huyện Lạng Giang: Làng An Lạc (xã Quang Thịnh) do ông Khải làm đội trưởng; làng Then (xã Thái Đào) do ông Nguyễn Văn Khoa làm đội trưởng (đội có 20 người vừa hát chèo, sử dụng nhạc cụ dân tộc, vừa có dàn nhạc viôlông); làng Liên Sơn (xã Tân Dĩnh) do bà Ngô Thị Liên 70 tuổi làm đội trưởng; và làng Chuông Vàng (xã Tân Hưng). Ở Lạng Giang còn duy trì hát chèo là chủ yếu, ít dựng các trích đoạn truyền thống. Tuy vậy còn giữ được dàn nhạc dân tộc khá phong phú.[6]

  • Nhà hát Chèo Bắc Giang là đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, có tư cách pháp nhân thuộc sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang.[7]
  • Nhà hát Chèo Bắc Giang có chức năng tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật Chèo, ca múa nhạc trong và ngoài tỉnh; khai thác, bảo tồn và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong và ngoài tỉnh.
  • Xây dựng chương trình kịch mục của loại hình nghệ thuật Chèo, chương trình ca múa, nhạc dân gian phục vụ biểu diễn trong và ngoài tỉnh.
  • Khôi phục, bảo tồn và truyền bá sâu rộng nghệ thuật Chèo truyền thống, Quan họ và Dân ca các dân tộc.
  • Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho diễn viên, nhạc công và các đội văn nghệ không chuyên ở Bắc Giang.
  • Mở rộng mối quan hệ giao lưu, học tập với các đoàn nghệ thuật khác.
  • Tuyển chọn, đào tạo nhân lực để đáp ứng sự phát triển của nhà hát.
  • Thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác do tỉnh giao cho.

Năm 2016, Nhà hát Chèo Bắc Giang có tổng số 60 cán bộ, nghệ sĩ, diễn viên, nhạc công, công nhân kỹ thuật và hành chính.[8]

  • Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ:
-Phòng tổ chức – Hành chính, tổng hợp
-Phòng Nghệ thuật và tổ chức biểu diễn
  • Các đoàn nghệ thuật gồm
-Đoàn Nghệ thuật Chèo
-Đoàn Ca múa nhạc

Cuộc thi chèo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 2017, Cuộc thi Tài năng trẻ Diễn viên sân khấu Tuồng, Chèo chuyên nghiệp toàn quốc diễn ra ở Thanh Hóa, Chèo Bắc Giang đồng xếp thứ 7 với 1 HCV Đặng Thị Liên.
  • Năm 2016, Tại cuộc thi Nghệ thuật Sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2016 diễn ra ở Nhà hát Chèo Ninh Bình[9] Nhà hát Chèo Bắc Giang tham gia hai vở diễn “Ơn trả nghĩa đền” của đạo diễn Đoàn Vinh và vở “Hoàng tử và sơn nữ” của đạo diễn Tạ Quang Lẫm. Kết quả giành giải cá nhân có 02 Huy chương vàng (Mai Lan, Anh Tuấn) và 05 Huy chương bạc.
  • Năm 2013, Tại cuộc thi Nghệ thuật Sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2013 diễn ra ở Hải Phòng[10] Nhà hát Chèo Bắc Giang không giành Huy chương vở diễn “Bà ba Cẩn”. Giải cá nhân có 01 Huy chương vàng (Quỳnh Mai) và 02 Huy chương bạc (Vũ Đức Anh, Thành Trung). Cơ cấu giải thưởng cuộc thi có tổng 03 vở diễn đạt HCV và 06 vở diễn đạt HCB, 42 HCV cá nhân, 68 HCB cá nhân. Xếp thứ 16/17 đoàn tham dự theo thành tích huy chương.
  • Năm 2011, Tại Liên hoan Sân khấu Chèo về đề tài hiện đại – 2011 diễn ra ở Thái Bình,[11] Chèo Bắc Giang không giành Huy chương vở diễn. Giải cá nhân có 02 Huy chương vàng (Đức Anh, Quỳnh Mai) và 01 Huy chương bạc (Xuân Hải). Cơ cấu giải thưởng cuộc thi có tổng 03 vở diễn đạt HCV và 03 vở diễn đạt HCB, 27 HCV cá nhân, 50 HCB cá nhân. Xếp hạng 8/13 đoàn tham dự theo thành tích huy chương.
  • Năm 2009, Tại Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc – 2009 diễn ra ở Quảng Ninh[12] Nhà hát Chèo Bắc Giang (Đoàn nghệ thuật Chèo, Ca Múa Nhạc Bắc Giang) giành Huy chương bạc vở diễn “Danh chiếm bảng vàng” (Cơ cấu giải hội diễn có 02 vở diễn đạt Huy chương vàng và 05 vở diễn đạt Huy chương bạc). Giải cá nhân có 02 Huy chương vàng (Thanh Hường, Quang Lẫm) và 03 Huy chương bạc (Phạm Quỳnh Mai, Hà Văn Quân, Vũ Ngọc Anh). Xếp thứ 6/17 đoàn tham dự về số lượng huy chương.

Thành tích khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, Nhà hát Chèo Bắc Giang đạt các thành tích sau:[13]

  • 6 nghệ sĩ Ưu tú.
  • 02 Huân chương lao động: Hạng Nhì và hạng Ba.
  • 02 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
  • Hơn 30 Bằng khen, Cờ thi đua xuất sắc của Bộ VHTTDL, UBND tỉnh và các Bộ, Ngành khác.
  • Gần 30 Huy chương vàng, Huy chương bạc của tập thể và cá nhân các nghệ sĩ tại các kỳ Hội diễn, Liên hoan sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc.
  • 10 năm liền từ 2001 đến 2011, đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, cơ quan văn hóa cấp tỉnh và thành phố.
NSND Trần Thông

Nghệ sĩ nhân dân Trần Thông quê ở Bình Dương, xã Ngọc Sơn, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang. Ông hiện là Giám đốc Nhà hát Chèo Bắc Giang. Trần Thông là nghệ sĩ gạo cội của Đoàn, đạt 04 Huy chương Vàng, được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú từ năm 1997 và Huân chương Lao động hạng Ba. Nhà hát Chèo mà ông lãnh đạo suốt 2002 đến nay đều hoàn thành vượt mức kế hoạch, giành nhiều Huy chương Vàng, Bạc toàn quốc, được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba (2004), Huân chương Lao động hạng Nhì (2009).[14]

  1. ^ Nhà hát Chèo Bắc Giang tiền thân là Đoàn Nghệ thuật Chèo Sông Thương
  2. ^ Đoàn nghệ thuật (Chèo, ca múa nhạc) Bắc Giang 50 năm xây dựng và trưởng thành (12:00-01/03/2011)
  3. ^ Giữ chuẩn khi cách tân chèo
  4. ^ Chiếu chèo Yên Dũng
  5. ^ [Năm 2007, huyện Yên Dũng đã tổ chức Liên hoan Tiếng hát chèo lần thứ nhất. Tham gia hội diễn có 21 câu lạc bộ của 21 làng, với hàng trăm diễn viên và nhạc công không chuyên. Yên Dũng, Bắc Giang: Thức dậy các làng chèo]
  6. ^ Chèo truyền thống ở Bắc Giang
  7. ^ Về việc nâng cấp Đoàn nghệ thuật Chèo – Ca múa nhạc Bắc Giang thành Nhà hát Chèo Bắc Giang và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,cơ cấu tổ chức, biên chế của Nhà hát Chèo Bắc Giang
  8. ^ Nhà hát Chèo Bắc Giang 57 năm phát triển
  9. ^ Thi Nghệ thuật Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc: Bắc Giang giành 7 huy chương
  10. ^ Kết quả giải thưởng tại cuộc thi Nghệ thuật Sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2013
  11. ^ Về việc tặng giải thưởng tại “Liên hoan Sân khấu Chèo về đề tài hiện đại – 2011”
  12. ^ Quyết định số 4916/QĐ-BVHTTDL ngày 25/12/2009 Về việc Khen thưỏng “Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc – 2009”
  13. ^ NHÀ HÁT CHÈO Trụ sở: Xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  14. ^ Một giờ với nghệ sĩ ưu tú Trần Thông

Quận Trego, Kansas –

Allen |

Anderson |
Atchison |
Barber |
Barton |
Bourbon |
Brown |
Butler |
Chase |
Chautauqua |
Cherokee |
Cheyenne |
Clark |
Clay |
Cloud |
Coffey |
Comanche |
Cowley |
Crawford |
Decatur |
Dickinson |
Doniphan |
Douglas |
Edwards |
Elk |
Ellis |
Ellsworth |
Finney |
Ford |
Franklin |
Geary |
Gove |
Graham |
Grant |
Gray |
Greeley |
Greenwood |
Hamilton |
Harper |
Harvey |
Haskell |
Hodgeman |
Jackson |
Jefferson |
Jewell |
Johnson |
Kearny |
Kingman |
Kiowa |
Labette |
Lane |
Leavenworth |
Lincoln |
Linn |
Logan |
Lyon |
Marion |
Marshall |
McPherson |
Meade |
Miami |
Mitchell |
Montgomery |
Morris |
Morton |
Nemaha |
Neosho |
Ness |
Norton |
Osage |
Osborne |
Ottawa |
Pawnee |
Phillips |
Pottawatomie |
Pratt |
Rawlins |
Reno |
Republic |
Rice |
Riley |
Rooks |
Rush |
Russell |
Saline |
Scott |
Sedgwick |
Seward |
Shawnee |
Sheridan |
Sherman |
Smith |
Stafford |
Stanton |
Stevens |
Sumner |
Thomas |
Trego |
Wabaunsee |
Wallace |
Washington |
Wichita |
Wilson |
Woodson |

Wyandotte